🏢 Doanh Nghiệp

Xây dựng Việt Nam hùng cường vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội

15-04-2026 13:28
0 lượt xem
Đã public
Trong dòng chảy 80 năm xây dựng và phát triển đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đi qua nhiều bước ngoặt lịch sử lớn lao, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển. Nhìn lại chặng đường ấy, có thể khẳng định một cách nhất quán rằng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn. Đồng thời, mô hình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ngày càng được thực tiễn chứng minh là sáng tạo lớn về lý luận và thực tiễn của Việt Nam. Trong mô hình đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng, là công cụ chiến lược để nhà nước định hướng, điều tiết, dẫn dắt nền kinh tế, bảo đảm các cân đối lớn, giữ vững ổn định vĩ mô, củng cố quốc phòng, an ninh, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống nhân dân hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trong dòng chảy 80 năm xây dựng và phát triển đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đi qua nhiều bước ngoặt lịch sử lớn lao, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển. Nhìn lại chặng đường ấy, có thể khẳng định một cách nhất quán rằng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn. Đồng thời, mô hình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ngày càng được thực tiễn chứng minh là sáng tạo lớn về lý luận và thực tiễn của Việt Nam. Trong mô hình đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng, là công cụ chiến lược để nhà nước định hướng, điều tiết, dẫn dắt nền kinh tế, bảo đảm các cân đối lớn, giữ vững ổn định vĩ mô, củng cố quốc phòng, an ninh, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống nhân dân hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
 

Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế…”. Quan điểm này tiếp tục được nhấn mạnh trong Cương lĩnh năm 2011 và được hiến định tại Điều 51 Hiến pháp năm 2013 “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Kinh tế nhà nước không chỉ bao gồm DNNN, mà còn bao trùm toàn bộ nguồn lực, tài sản thuộc sở hữu nhà nước như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vùng biển, vùng trời, tài nguyên số, ngân sách, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước, hệ thống kết cấu hạ tầng công cộng và phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Với phạm vi rộng lớn như vậy, kinh tế nhà nước chính là khung vật chất cơ bản để nhà nước thực hiện các chức năng phát triển, ổn định, điều tiết, phân phối lại và ứng phó với các cú sốc lớn của nền kinh tế. Đặc biệt với nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là của dân, do dân và vì hạnh phúc nhân dân, thì kinh tế nhà nước chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân phải là nguồn lực, công cụ chủ đạo để nhà nước là người đại diện sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN và thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Thực chứng mạnh mẽ nhất cho vai trò của kinh tế nhà nước đã thể hiện rõ qua quá trình huy động, tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhà nước những năm qua. Đến năm 2023, tổng diện tích đất được kiểm kê trên 33 triệu ha, với tỷ lệ sử dụng đạt 96,5%, tăng so với 93,8% năm 2018. Trung bình mỗi năm đưa vào sử dụng hơn 225 nghìn ha đất chưa sử dụng. Nguồn lực đất đai được khai thác hiệu quả hơn cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh lương thực, phân bổ đất cho sản xuất, hạ tầng, đô thị, quốc phòng và an ninh hợp lý hơn.

Cùng với đó là hệ thống tài nguyên thiên nhiên đa dạng. Tài nguyên khoáng sản là nền tảng để ngành khai khoáng đóng góp bình quân trên 3% GDP. Tài nguyên nước được quản lý chặt chẽ hơn; hệ thống thủy lợi, hồ chứa được nâng cấp, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và phòng chống thiên tai. Không gian biển đảo của Việt Nam với 5.926 đảo lớn nhỏ, tổng diện tích khoảng 3,5 triệu km2, ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển, từ thủy sản, cảng biển, logistics, dầu khí đến điện gió ngoài khơi, năng lượng mới và các ngành kinh tế biển hiện đại. Vùng trời quốc gia được quản lý tập trung và khai thác linh hoạt theo mô hình dân sự - quân sự kết hợp, không gian ngầm từng bước được khai thác hiệu quả tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thông qua các công trình hầm thương mại, tuyến metro, hạ tầng kỹ thuật ngầm và bãi đỗ xe.

Nếu đất đai và tài nguyên là những nguồn lực sơ cấp, thì kết cấu hạ tầng là nguồn lực thứ cấp có ý nghĩa quyết định đối với năng suất quốc gia và khả năng phát triển của khu vực tư nhân. Tính đến năm 2025, tổng giá trị 19 loại tài sản công kết cấu hạ tầng đạt gần 12 triệu tỷ đồng, trải rộng trên các lĩnh vực giao thông, năng lượng, nông nghiệp và phát triển nông thôn, thương mại, y tế, giáo dục, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao, du lịch và các hạ tầng xã hội khác. Đây không chỉ là những con số về vốn đầu tư, mà là minh chứng cho vai trò của nhà nước trong việc tạo dựng bệ đỡ vật chất dài hạn cho toàn bộ nền kinh tế. Sẽ không thể có một khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh, không thể có công nghiệp hóa hiện đại hóa thực chất, nếu thiếu đường sá, cảng biển, điện năng, hạ tầng số, trường học, bệnh viện, thủy lợi và các thiết chế công cộng nền tảng.

Tiềm lực tài chính quốc gia tăng cường và củng cố mạnh mẽ nhờ vai trò của kinh tế nhà nước. Giai đoạn 2021 - 2025, quy mô thu ngân sách nhà nước (NSNN) ước đạt 9,4 triệu tỷ đồng, gấp 1,36 lần giai đoạn trước; tỷ lệ huy động vào ngân sách bình quân đạt khoảng 18,3% GDP. Cơ cấu thu bền vững hơn với tỷ trọng thu nội địa lên tới 83,3%, cho thấy nền tài chính công ngày càng dựa nhiều hơn vào sức sản xuất trong nước. Trong khi đó, chi đầu tư phát triển chiếm khoảng trên 32% tổng chi ngân sách, phản ánh định hướng đúng đắn là dùng nguồn lực công để đầu tư cho tương lai, thay vì chỉ giải quyết các nhu cầu ngắn hạn. Cân đối NSNN được duy trì theo các mục tiêu đề ra, góp phần giữ ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh thế giới nhiều biến động.

Bên cạnh ngân sách là hệ thống dự trữ và các quỹ tài chính nhà nước. Quy mô dự trữ quốc gia liên tục tăng từ 8.493 tỷ đồng năm 2011 lên 13.574 tỷ đồng năm 2024, bao gồm 13 nhóm hàng với 75 mặt hàng thiết yếu, phục vụ kịp thời cho các tình huống đột xuất như đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ... Cùng với đó là 22 quỹ do Trung ương quản lý, với tổng số dư nguồn quỹ dự kiến cuối năm 2024 đạt khoảng 1.594,1 nghìn tỷ đồng. Trong số này, các quỹ lớn như Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế chiếm tới 91% tổng nguồn lực, giữ vai trò trụ cột của hệ thống an sinh xã hội.

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đóng vai trò quan trọng trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, như viễn thông, than, điện, xăng dầu, khai khoáng, tài chính, ngân hàng và các dịch vụ công thiết yếu bảo đảm nhu cầu tiêu dùng, sản xuất trong nước và xuất khẩu.

Tính đến năm 2025, cả nước có 671 DNNN, mặc dù chỉ chiếm 0,23% tổng số doanh nghiệp nhưng nắm giữ khối tài sản lên tới trên 4 triệu tỷ đồng (chưa tính DNNN là các NHTMNN). Hiệu quả hoạt động của DNNN ngày càng cải thiện, tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm 2023 đạt 13,1% (so với 2,4% của khu vực tư nhân), năng suất lao động đạt 4,5 tỷ đồng/người, cao hơn các khu vực khác. DNNN đóng góp tới 27,2% tổng thu NSNN toàn quốc (năm 2024).

Đặc biệt, trong hệ thống tài chính - ngân hàng, khối NHTMNN giữ vai trò chủ lực đối với ổn định tiền tệ, tín dụng và an toàn hệ thống. Với tổng tài sản khoảng 9,36 triệu tỷ đồng, nhóm ngân hàng này chiếm khoảng 50% thị phần tín dụng toàn hệ thống, hoạt động kinh doanh hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, kiểm soát tốt rủi ro, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách. Trong điều kiện Việt Nam vẫn là một nền kinh tế mà tín dụng ngân hàng là kênh cung ứng vốn chủ yếu, vai trò của các NHTMNN không chỉ nằm ở quy mô, mà còn ở chức năng định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, dẫn dắt mặt bằng lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp và góp phần giữ ổn định vĩ mô.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội đang hỗ trợ hơn 6,8 triệu hộ, góp phần quan trọng vào giảm nghèo bền vững, tạo việc làm, hỗ trợ học sinh sinh viên, nhà ở xã hội và các Chương trình mục tiêu Quốc gia. Đây là phần việc mà thị trường thuần túy không thể tự thực hiện một cách đầy đủ. Sự hiện diện của các tổ chức tín dụng nhà nước vì vậy không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn thể hiện rõ bản chất XHCN của mô hình phát triển Việt Nam, nơi tài chính không đơn thuần là hoạt động kinh doanh tiền tệ, mà còn là công cụ phục vụ phát triển bao trùm.

Thành tựu phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên qua là minh chứng rõ nét cho vai trò và sự phát triển của kinh tế nhà nước đưa đất nước từ một quốc gia khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng (1975–1985), thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 125–200 USD/năm và lạm phát năm 1986 lên tới 774,7% từng bước mạnh mẽ vươn lên xếp thứ 32 thế giới về quy mô nền kinh tế đạt trên 514 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, gia nhập nhóm nước thu nhập trung bình cao; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021–2025 đạt khoảng 6,2%/năm, riêng năm 2025 đạt 8,02%.

Tạo bệ phóng vững chắc cho phát triển

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khóa XIII (tháng 9/2024) đã thống nhất khẳng định, Việt Nam đang bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, với những mục tiêu cao cả: đến năm 2030 là nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình cao và đến 2045, trở thành một quốc gia phát triển có mức thu nhập cao. Điều này cũng đã được khẳng định trong văn kiện Đại hội XIV vừa qua: “Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH”.

Hiện thực hóa mục tiêu này, Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XIV đã đưa ra 8 nội dung quan trọng về triển khai quyết sách, khẳng định cần phải phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Trong đó, phải phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế.

Điều này càng quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Bộ Chính trị nhận định bối cảnh quốc tế và trong nước đang đặt ra những yêu cầu đổi mới tư duy về phát triển kinh tế nhà nước. Trong đó, cuộc Cách mạng công nghệ và chuyển đổi số đòi hỏi sự thay đổi căn bản trong quản trị kinh tế nhà nước, từ can thiệp vi mô sang giám sát vĩ mô dựa trên dữ liệu; chuyển đổi số trở thành nền tảng cốt lõi để các DNNN nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt đối với DNNN phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, không phân biệt đối xử và minh bạch hóa thông tin. Nhiều quốc gia đã định vị lại kinh tế nhà nước như một công cụ chiến lược để đảm bảo an ninh kinh tế, tính tự chủ quốc gia và bảo vệ hạ tầng trọng yếu thay vì chỉ kinh doanh thuần túy. “Ở trong nước, khu vực kinh tế nhà nước (chiếm khoảng 20% GDP) cần tăng trưởng đột phá từ trên 7%/năm để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước”, ông Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh

Trên tinh thần đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW (Nghị quyết số 79), ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước ra đời với bước đột phá về nội hàm, cơ chế vận hành của kinh tế nhà nước. Nghị quyết đã đưa ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo mang tính hệ thống, bao trùm và toàn diện về phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới. Điều đặc biệt quan trọng là Nghị quyết không chỉ kế thừa các quan điểm của các nghị quyết, kết luận trước đây về việc kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, mà còn bổ sung, cụ thể hóa nội hàm vai trò chủ đạo trên các mặt: Định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.

Nghị quyết tiếp tục khẳng định mối quan hệ phát triển bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và hỗ trợ lẫn nhau giữa các khu vực kinh tế, đồng thời làm rõ, bổ sung quan điểm: kinh tế nhà nước cùng với các thành phần kinh tế trong nước xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh kinh tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Đồng thời đề ra mục tiêu đến năm 2045, kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao và hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, cung ứng dịch vụ công chất lượng cao, khẳng định tính ưu việt của CNXH.

Một điểm mới có tính đột phá của Nghị quyết số 79 là cách nhìn nhận kinh tế nhà nước là một chủ thể thị trường trực tiếp sử dụng các nguồn lực để đầu tư, kinh doanh, tạo giá trị gia tăng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Từ đó, đặt ra yêu cầu: Cơ chế phân bổ các nguồn lực kinh tế nhà nước phải vận hành bằng cơ chế thị trường. Đồng thời đề ra quan điểm mới: Các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường. Đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của nhà nước theo thông lệ quốc tế.

Không dừng ở đó, Nghị quyết còn nâng tầm nhiệm vụ của kinh tế nhà nước gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, không chỉ là công cụ để nhà nước định hướng, điều tiết, dẫn dắt phát triển kinh tế, mà còn cần phải trở thành chủ thể trực tiếp góp phần hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước và thực hiện chủ trương xác lập mô hình tăng trưởng mới. Kinh tế nhà nước không chỉ là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết, mà còn phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Các mục tiêu cụ thể với 06 thành tố của kinh tế nhà nước cũng đã được Nghị quyết số 79 đặt ra, trong đó nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch đất đai, tài nguyên đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Bên cạnh việc phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế. Với NSNN, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách.

Khối DNNN, Nghị quyết đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến: Năm 2030 có 50 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Riêng tổ chức tín dụng nhà nước, có ít nhất 03 ngân hàng thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất Châu Á về tổng tài sản; 04 ngân hàng tiên phong về công nghệ, quản trị, chủ đạo về quy mô, thị phần, điều tiết thị trường…

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Nghị quyết cũng đã cụ thể hóa thành các nhóm nhiệm vụ, giải pháp tương đối rõ đối với từng cấu phần của kinh tế nhà nước.

Trong đó, đối với đất đai và tài nguyên, Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp gắn với 7 lĩnh vực: đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, kinh tế biển, nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp, không gian ngầm, tài nguyên số và tài nguyên viễn thông. Đáng chú ý, ngay trong năm 2026, định hướng là ban hành Luật Đất đai sửa đổi và các văn bản hướng dẫn để tháo gỡ vướng mắc khơi thông nguồn lực từ đất đai; có chính sách thúc đẩy tiếp cận, làm chủ công nghệ khai thác, chế biến sâu khoáng sản, nhất là khoáng sản chiến lược; ban hành cơ chế vượt trội và khuôn khổ sandbox để phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp, công nghiệp hàng không, vũ trụ. Đây là tầm nhìn mới, cho thấy kinh tế nhà nước trong giai đoạn tới không chỉ gắn với những nguồn lực truyền thống, mà còn phải đi trước trong những không gian tăng trưởng mới.

Đối với tài sản kết cấu hạ tầng, yêu cầu đặt ra là xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế; bảo đảm tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu; đồng thời bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách phát triển hạ tầng, bảo đảm hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

Trọng tâm điều hành NSNN được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với cơ cấu lại nền kinh tế và mô hình tăng trưởng mới; vừa mở rộng cơ sở thu, tăng tính bền vững, minh bạch, vừa tránh dàn trải trong chi tiêu; tăng cường phân cấp gắn với trách nhiệm, theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; ưu tiên đầu tư công cho các nhiệm vụ chiến lược; đa dạng hóa nguồn vốn, bảo đảm vay và trả nợ an toàn, hiệu quả.

Đối với DNNN, Nghị quyết số 79 đề ra 17 nhóm nhiệm vụ, giải pháp thuộc 4 nội dung chính: bảo đảm DNNN thực sự là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; cải thiện quản trị doanh nghiệp; và cơ cấu lại khu vực DNNN. Đặc biệt, Nghị quyết định hướng rõ danh mục các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược cần tập trung đầu tư để DNNN thực hiện vai trò dẫn dắt, bao gồm quốc phòng, an ninh, năng lượng, vận tải, logistics, tài chính - ngân hàng, khoa học - công nghệ, điện tử - viễn thông, hạ tầng số, khoáng sản chiến lược…

Riêng các tổ chức tín dụng nhà nước, yêu cầu đặt ra là tiếp tục áp dụng các chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho các NHTMNN, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình.

Trong đó trọng tâm là nâng cao năng lực quản lý rủi ro. Xây dựng chiến lược chuyển đổi số toàn diện cho tổ chức tín dụng nhà nước; số hoá dịch vụ, dữ liệu, quản lý vốn theo thời gian thực; phát triển các dịch vụ ngân hàng số, mở rộng cung cấp sản phẩm tài chính trực tuyến đến mọi vùng miền của cả nước. Tổ chức, sắp xếp lại mạng lưới NHTMNN và tăng vốn điều lệ cần được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động. Đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với Ngân hàng Chính sách xã hội và cơ cấu lại toàn diện theo hướng tinh gọn, hiệu quả; đa dạng hóa nguồn lực đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam…

80 năm xây dựng và phát triển đất nước, kinh tế nhà nước là một trong những nhân tố nền tảng làm nên sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam hiện đại. Trong kỷ nguyên mới, vai trò đó đòi hỏi phải được nâng lên một tầm mức mới, thực sự trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao và hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, cung ứng dịch vụ công chất lượng cao, khẳng định tính ưu việt của CNXH. Trên con đường ấy, kinh tế nhà nước phải tiên phong trong mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; phải là lực lượng mở đường, dẫn dắt, hỗ trợ các khu vực kinh tế khác tạo lập thị trường lành mạnh, chuẩn mực và đáng tin cậy, bảo đảm cho sự phát triển của đất nước luôn gắn với độc lập, tự chủ, công bằng, tiến bộ xã hội và khát vọng hùng cường dân tộc.

Với tư duy mới, thể chế mới và quyết tâm đổi mới mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, kinh tế nhà nước sẽ tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo của mình, cùng với kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể và khu vực đầu tư nước ngoài tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa Việt Nam tiến nhanh hơn, vững chắc hơn trên con đường trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.

Link gốc

Nguồn bài viết: https://fireant.vn/

Chia sẻ bài viết
Facebook Twitter